Thứ Ba, 26 tháng 8, 2025


 CHIỀU THU QUÊ NHÀ


Chợ  quê  xưa quán lèo tèo

Xe  tôi non lốp vẫn đèo em theo

Đồng chiêm bàng bạc gió heo

Nghe mương cõng nước gọi chiều cô đơn

Em về lúa trổ đòng non

Nhớ mùi bồ kết nhuộm hồn vào thu

Tay anh nham nháp phù du

Lo mưu sinh đẩy tương tư sang ngày

Nghĩ thương làn gió heo may

Lang thang giữa cõi người say cuối đường

Hồng Quang các bạn cùng trường

Có ai chín nhớ mười thương một đời

Này mi lá liễu xanh ơi

Này đôi mắt biếc một thời trong veo

Sao em nỡ vội qua đèo

Để ai thương nhớ giữa chiều mùa thu


              Dương Văn Cường

Thứ Hai, 25 tháng 8, 2025


 TRƯỜNG XƯA

   (Bài viết chào mừng lễ kỷ niệm 40 năm thành lập trường)

          

       Trường trung học phổ thông Nguyễn trung Ngạn nằm cạnh con đường liên huyện mềm mại như một dải lụa vắt qua cánh đồng làng. Chiều vào thu gió heo may nhè nhẹ, những ruộng lúa ngả màu vàng đang vào mùa thu hoạch, hoàng hôn tím dần. Mắt tôi hơi cay cay vì mùi khói rơm, xen lẫn mùi nồng nồng của đất nhưng dễ chịu vô cùng

         Thả hồn trong những suy tư, bỗng ký ức xa xưa lại ùa về, cũng trên cánh đồng này bọn trẻ chúng tôi nô đùa chạy nhảy, vào mùa gặt thì mót thóc, rồi theo bố mẹ ra đồng hái đỗ, nhổ lạc. Cánh đồng này năm xưa là khu trồng đỗ lạc, vào cuối năm những ruộng lạc ngả màu vàng nhổ lên những chùm củ chi chít, tôi  thích nhất món khoai lang luộc ăn với lạc sống, sao vừa ngọt vừa bùi, tuyệt vời đến thế. Rồi những ngày mưa giông bọn trẻ cởi trần bắt cá rạch, những con rô gặp nước mừng rỡ giương vây và nhảy lên các bờ cỏ. Hạt mưa dàn dạt như kim châm vào thân thể nhưng vẫn ham bởi giỏ cá nặng ngang lưng.

       Rồi những trưa hè trời nắng như đổ lửa, cua cá sao mà nhiều thế, bởi lúc đó chưa có thuốc trừ sâu, diệt cỏ như bây giờ. Khi nước nóng cua ngoi lên thân lúa chỉ việc bắt cho vào giỏ, cá trạch thi nhau chui vào hang nhỏ ven bờ tìm chỗ mát , chỉ cần hứng rổ ngoài miệng rồi lấy tay moi ra thì đủ nấu một nồi riêu. Mùa đông nước cạn những vũng bùn còn thâm màu đất,  trạch dồn về mọi người mang cuốc ra cuốc những con trạch to mập vàng óng đang ẩn mình dưới lớp đất bùn ngoe ngẩy. Mang về om với củ chuối thì ngon tuyệt.

     Nhà tôi có cây khế chua không biết trồng từ bao giờ thân mốc mác nhưng quả trĩu cành, mỗi mùa cá cả xóm đến mua hoặc xin về nấu. Bây giờ nhớ tới nồi cá kho với khế ngày ấy, nhất là hầm trấu nhừ hết cả xương ngon hết chê. Cá kho làng Vũ Đại bây giờ cũng chưa chắc đã bằng, sức trẻ như bọn tôi lúc bấy giờ ăn không biết no mẹ tôi thường bảo:” có cá đổ vạ cho cơm”.

     Năm 1978 trường tôi bắt đầu xây dựng trên cánh đồng ấy. Chúng tôi là học sinh khoá 1 nên sáng học nhờ ở kho gạo dưới làng Đan tràng cách trường 2km, chiều về lao động vác đất vượt nền,lên huyện đóng bè tre gỗ kéo dọc sông khoảng 10km về xây trường. Hai năm lao động liên tục , đến năm thứ ba ngôi trường gần hoàn thành chúng tôi được chuyển về ngôi trường mới.Được về học ở ngôi trường mới ai cũng thích vì nó cao ráo sáng sủa , được tận hưởng làn gió mát từ cánh đồng thổi đến ,nghe tiếng rào rào của đàn vịt đẻ nhà ai đang  tìm mồi ngay cạnh cửa sổ lớp học.

Từ đó vùng quê tôi có một âm thanh mới là tiếng trống trường.

      Tuổi trẻ của chúng tôi đã đến trường theo hiệu lệnh của tiếng trống trường...dù cho năm tháng đã qua đi,song âm thanh của nó vẫn còn mãi mãi trong ta như một hoài niệm.

Các làng quê xa xôi hẻo lánh ,đến các thị thành náo nhiệt đông vui,ở đâu,âm vang ngọt ngào và ấm áp của nó cũng gợi cho ta bao trìu mến,nó gắn tuổi thanh xuân của ta với học đường.

Từ cụ ông,cụ bà đến các bậc cha mẹ anh chị,mỗi khi nghe trống đổ hồi...tùng...tùng...tùng,cả nhà rộn lên thúc giục con em mình mau đến lớp.mười năm học phổ thông,tiếng trống trường thường xuyên nhắc nhở,động viên khích lệ bằng thứ âm thanh mà không dễ gì những âm thanh khác có được.

Hằng ngày trống trường gọi ta đi học buổi sáng,buổi chiều,trống đổi giờ và tan học.Chúng ta chấp hành vì nó gọi ta bằng tiếng nói thiêng liêng chân thành và cao cả.

Ngoài ra nhân dân sống quanh trường cũng chịu ảnh hưởng bởi cái lệnh không có sự ràng buộc đó,dần dần trở thành thói quen để sắp xếp công việc và sinh hoạt trong gia đình.Vì lẽ đơn giản tiếng trống trường là giờ giấc,là qui ước về thời gian.Chẳng thế nó còn khắc sâu vào ký ức của mỗi chúng ta bao niềm thương nỗi nhớ,bao chuyện vui buồn của thời học trò,nó thong thả buông ra từng tiếng một ,chìm lắng trong không gian để gọi chiều về,một ngày đã trôi qua.Năm học này kế tiếp năm học khác,từ đây sự tích lũy vốn sống,vốn tri thức của chúng ta được phát triển theo năm tháng cùng tiếng trống trường.

Năm học kết thúc,bắt đầu ba tháng hè,tiếng con ve kêu buồn,như gợi lại thiếu vắng tiếng trống trường,ta hằng ước năm học mới bắt đầu.

Lớn lên đi đây đi đó,chúng ta được nghe thêm nhiều tiếng trống nữa:trống trận,trống hội,trống hộ đê,trống báo động,trống đưa người vĩnh biệt cõi đời...Nhưng chỉ có một tiếng trống mà ta yêu quí nhất,tiếng trống trường ,từ trong âm thanh êm ả đó hiện lên trong ta hình ảnh một ngôi trường cụ thể không hề lẫn lộn với bất kỳ ngôi nhà cao tầng nào khác , trường trung học phổ thông Nguyễn trung Ngạn.

Với hình ảnh các thày ,các cô đã đứng trên bục giảng .Sự nghiệp trồng người của các thày ,cô đã dìu dắt bao thế hệ học sinh trưởng thành và tiếng trống trường ngày ấy còn vang vọng đâu đây,nó đã khắc sâu vào tâm khảm chúng ta thứ âm thanh đặc biệt đến kỳ lạ ,đã lay động hàng triệu con  tim .


                           

              Dương Văn Cường


BẠN BÈ


Bạn bè lưu lạc cả rồi

Nay còn mấy đứa ta ngồi với nhau

Sự đời bao nỗi bể dâu

Đứa còn, đứa mất biết đâu mà lần

Đời người như kiếp phù vân

Sự sống, cái chết lúc gần lúc xa

Đứa thì ở lại quê nhà

Thức khuya, dậy sớm lợn gà gieo neo

Lăn lưng với đất vẫn nghèo

Vứt cực mà chạy nó theo đến cùng

Đứa thì vào ở thị thành

Cậu cậu, mợ mợ nghĩa tình đầy vơi

Âu là cũng tại ông trời

Đưa nằm biệt thự, đứa ngồi lều tranh

Rưng rưng kể chuyện chẳng lành

Chiến tranh ruột thịt cũng đành bắn nhau

Giật mình dưới bóng trời sầu

Nghe ra khủng khiếp biết đâu mà lường

Tan hoang nhà cửa miếu đường

Xót xa đất thở nỗi thương nhân tình

Đứa thì lủi thủi một mình

Con xa, vợ mất chịu đành cô đơn

Đứa thì đau ốm mỏi mòn

Mắt mờ ,tai điếc thân còm khổ chưa

Đứa thì của cải dư thừa

Tiếc thay phận mỏng nắng mưa khôn lường

Đứa thì danh vọng coi thường

Mặt mày phớn phở tỏ tường ruột gan

Đứa thì trút cả tâm can

Dâng cho cửa Phật mong ban phước lành

Đứa thì theo nghiệp thơ văn

Xem chừng tối hạ chỉ bằng túi teo

Đứa thì khôn tính khó nghèo

Làm gì được nấy ai theo cho cùng

Rượu ngon đâu kể be sành

Rượu đắng, rượu chát tràn bình cứ say

Nghiêng trời xa xứ mắt cay

Nhớ về quê cảnh trăng gầy sương giăng

Niềm vui ngắn ngủi đãi đằng

Nỗi đau lạnh buốt cạn dòng lệ sa

Bạn ơi ! Cạn chén đi mà

Giàu nghèo rồi cũng làm ma cuối đời

Đạn bom chết chóc một thời

Vận may còn được đứng ngồi bên nhau

Lơ phơ mái tóc trắng đầu

Bia tràn miệng cốc nông sâu trận cười

Nhìn nhau rạng rỡ mặt người

Yêu thương muôn nỗi đất trời quê hương


           Dương Văn Cường

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2025

 ĐƯỜNG LÀNG 


Làng quê cái thuở mẹ tôi

Đường làng là vậy trời ơi hỡi trời 

Đường làng chị dắt đi chơi

Dung dăng, dung dẻ cõi trời chao nghiêng.

Đường làng hằn dấu chân quen

Mới nhìn qua đã biết thêm tính người

Đường làng đom đóm ma trơi 

Chập chờn nỗi sợ để người đụng nhau

Đường làng nhăn nhúm nỗi đau

Lá tre rụng, dép mo cau vẹt mòn

Đường làng vương rạ vãi rơm

Hạt thóc rớt cũng lên cơn nõn nà

Con trâu lạc biết về nhà,

Chó chạy loạn cũng tìm ra lối về

Bướm vàng bay rợp đường quê

Bê non nhảy cẫng,cành tre vít chiều.

Tay bà xách nước liêu xiêu

Tưới gốc mướp đắng, ớt tiêu cực lòng

Chiều hoàng hôn gái xa chồng

Để rồi thắc thỏm, đứng trông hao gầy

Đường làng rê thóc lép bay

Lệch nghiêng dáng mẹ trời gầy lêu khêu

Đường làng ở tuổi đang yêu

Bông hoa giẻ cũng thả diều mùi hương

Chàng hoàng tử , cô lọ lem

Phân trâu rãi ngõ, cũng nên hẹn hò

Đường làng ai lấy, ai cho

Để ai lạc lối bây giờ hỡi ai

Ta như đứa trẻ lạc loài 

Về làng bẩn thẩn nhớ ai hỡi đường

Đường làng biết mấy thân thương

Hình dung bóng mẹ vẫn thường đi qua

        


DƯƠNG VĂN CƯỜNG


Thứ Ba, 12 tháng 8, 2025


 NHỚ NHÀ MÁY CŨ

Ngắm nhà máy cũ buổi trưa

Vui buồn đâu mãi ngày xưa kéo về

Trăm mười nặng một lời thề

Nuôi bao đời thợ thành nghề giỏi giang

Bao người vì nó đoàng hoàng

Thăng quan tiến chức huy hoàng đấy thôi

Đi đâu cũng gặp phải người

Là thợ nhà máy một thời nắng mưa

Em ơi em có biết chưa

Nhà máy sắp phá giữa trưa anh buồn

Trăm nghìn kỉ niệm cứ tuôn

Mà anh chưa biết để buồn vào đâu

Mưa xuân giọt nhớ giọt sầu

Mưa trên nhà máy lòng sầu vấn vương

Anh từ nhà máy thân thương

Vọng bao trầm tích con đường cha ông

Năm xưa cuốc móng vun trồng

Gieo hi vọng giữa mênh mông gío gào

Anh theo dây điện trên cao

Kéo dây dựng cột nôn nao đại ngàn

Rượu ngô bén chuyện díu dan

Điện lên thắp sáng nhà sàn đêm qua

Ta về Uông Bí phồn hoa

Phố đông đúc qúa toàn là công nhân

Đêm đêm ca kíp qua ngầm

Nước sông uông cũng rì rầm nhớ mong.

thơ Dương văn Cường

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2025


 VỀ UÔNG BÍ


Bạn hãy về đây uông bí xưa

Đói nghèo lạnh lẽo những chiều mưa

Tiếng chuông yên tử còn vang vọng

Bạch đằng thủy chiến quân nguyên thua


Bạn hãy về đây uông bí thơ

Sông uông năm tháng vẫn đứng chờ

Gửi tình theo nước sông uông ấy

Nghiêng cả giọng hò nghiêng vần thơ


Bạn hãy về đây uông bí mơ

Cánh diều ngưng gió cũng ngẩn ngơ

Sáng nay ai ghé qua thăm chợ

Có thấy hàng cau nắng vương tơ


Bạn hãy  về đây đất quê ta

Có nhà máy điện phía xa xa

Có rừng thông biếc xanh trên núi

Có dáng công nhân thật đậm đà


DƯƠNG VĂN CƯỜNG

Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2025

 TA ĐÃ GIÀ CHƯA...



Sáu mấy xuân ư liệu đã già

Đôi vai vẫn gánh việc quốc gia

Cơm nhà cứ thổi tù và tổng

Mặc vợ mè nheo vẫn cười khà


Bạc trắng đầu râu có phải ta

Yêu đời mải miết với thơ ca

Đôi chân vẫn bước đi muôn nẻo

Sức khỏe hình như xuống cấp hà


Luôn sống yêu thương giữa mọi người

Cho dù vất vả mãi luôn tươi

Tinh thần phẩm chất người chiến sĩ

Bão tố phong ba vẫn mỉm cười...

 CÔ ĐƠN

 

"Ta cô đơn

Người cô đơn” *

Như hai chiếc lá bên đường 

… mồ côi!

Tháng năm 

vắt mật dệt lời

Hương đồng cỏ nội, đầy vơi 

… nỗi lòng!

 

Cuộc đời

Chua khế, chát sung

Từng mơ 

muối mặn cay gừng 

thắm duyên

Trời xanh, 

bắt tội bến, thuyền

Kẻ dòng sông cũ

người miền tuyết băng!

 

Hạ huyền

Trăng lệch đường trăng

Bài thơ dang dỡ 

trăm năm gối đầu 

Kiếp tằm

mong trả nợ dâu

Nẻo tình

Sợ bước nông, sâu 

... Cuối chiều!!!


 TÌNH THƠ


Phải rồi anh vẫn nợ em

Khất lần mãi đã thành quen khất lần

Bẵng đi ngần ấy mùa xuân

Sông kia bên lở, bên cần bồi cao

Mái chèo khua động trăng sao

Mỏi mòn bến đợi cắm sào Trương Chi

Thời gian nhỏ giọt lâm ly

Chút tình vương vấn kẻ đi người chờ

Tình tôi đâu có hững hờ

Như dòng sông vẳng tiếng đò sang ngang

Mười hai bến nước mênh mang

Sông mê lỗi hẹn em làm khổ tôi*

Khổ tôi ngần ấy năm trời

Bây giờ trở lại gặp rồi tịnh không

Tịnh không duyên nợ chất chồng

Tịnh không em đã theo dòng nước xuôi

Em gây lên chuyện động trời

Thì ra em đến với người cạnh tôi

Tình thơ anh trả cho trời

Còn đâu bến đợi sông thôi hẹn hò


Thơ :Dương Văn Cường

*(thơ nguyễn bính)


 NHỚ XƯA


Giá như đừng có ngày xưa

Để tôi khỏi nhớ những trưa nắng hè

Lá sen làm tán lọng che

Nồm nam đón gío  bờ tre cuối làng

Bạn bè chẳng kể giàu sang

Buồn chung,vui góp chưa màng lợi danh

Nhiều khi chỉ mấy quả xanh

Cũng rôm rả cũng ngon lành cả trưa

Ngày xưa đâu? những ngày xưa

Tôi đi tìm khắp mà chưa thấy nào

Cá cua đánh dậm bờ ao

Khung trời xanh thẳm nắng chao  nhạt nhòa

ngoài vườn bưởi đã ra hoa

Ngày xưa có bóng mẹ ra sân vườn

Bạn trèo hái quả cành vươn

Hồn tôi về lại góc vườn nhỏ xinh

Hoa cải sao cứ vô tình

Để cho tôi đứng một mình ngẩn ngơ

Chiều quê sắc tím xa mờ


Lời thề xưa hoá câu thơ nửa chừng


Dương Văn Cường