Thứ Hai, 4 tháng 10, 2021

CHÙM THƠ XƯA

 Bài 1:THỜI XƯA


Sắc trời xanh

        Ngày ấy vẫn cứ xanh

Nắng chói chang 

        Cây cằn khô xém lá

Mưa hả hê 

      Ngập lụt khắp làng quê

Ta tìm nhau giữa bộn bề cuộc sống

Gió cứ miên man ôi dạt dào con sóng

Nốt nhạc cuối chiều gặp gỡ ngẩn ngơ reo

Ngôi trường cũ hoa thơm xao xuyến lạ

Đâu rồi nét tiêu điều cỏ dại ngày xưa

Ngày xưa ấy 

               Đâu còn nơi bến vắng

Tím chiều nay 

              Tắt nắng một đoạn đường

Chút xao lòng 

             Trước cảnh quê hương

Cảnh học trò 

            Đã lớn lên từ đấy

Ngôi trường cũ

           Cứ níu người ở lại

Mắt nhạt nhoà 

           Ký ức một thời xưa


                Dương Văn Cường


 Bài2: NGÀY XƯA


Tôi tìm về lại ngày xưa

Tuổi thơ đi học nắng đưa bên thềm

Bao nhiêu chuyện cũ chưa quên

Bao nhiêu bạn học làm lên bây giờ

Đời người như một giấc mơ

Tưởng như huyền thoại ai vừa dựng lên

Bạn nào nhớ được hết tên

Bạn nam,bạn nữ ôi thèm ngày xưa

Ngày xưa ăn cơm với dưa

Cá kho niêu đất canh chua mẹ dầm

Thiếu cơm ăn củ khoai hầm

Mùa đông lạnh giá quen nằm ổ rơm

Đôi khi rau má độn cơm

Vô tư chẳng tính thiệt hơn làm gì

Chiến tranh bao cảnh chia ly

Khó khăn chồng chất vẫn vì lợi chung

Thời bao cấp chẳng ngại ngùng

Quần lành áo rách vẫn cùng tiến lên

Chẳng ai nghĩ đến bạc tiền

Bán mua bằng cấp tham quyền nịnh trên

Tình bạn trong sáng làm nền

Cái ngày xưa đã làm lên bây giờ

Tình bạn đẹp cứ như mơ

Gặp nhau vui khổ thành thơ dạt dào

Ước gì vật đổi dời sao

Để tôi về với ngọt ngào ngày xưa


Dương Văn Cường


Bài 3: NHỚ XƯA


Giá như đừng có ngày xưa

Để tôi khỏi nhớ những trưa nắng hè

Lá sen làm tán lọng che

Nồm nam đón gío  bờ tre cuối làng

Bạn bè chẳng kể giàu sang

Buồn chung,vui góp chưa màng lợi danh

Nhiều khi chỉ mấy quả xanh

Cũng rôm rả cũng ngon lành cả trưa

Ngày xưa đâu? những ngày xưa

Tôi đi tìm khắp mà chưa thấy nào

Cá cua đánh dậm bờ ao

Khung trời xanh thẳm nắng chao  nhạt nhòa

ngoài vườn bưởi đã ra hoa

Ngày xưa có bóng mẹ ra sân vườn

Bạn trèo hái quả cành vươn

Hồn tôi về lại góc vườn nhỏ xinh

Hoa cải sao cứ vô tình

Để cho tôi đứng một mình ngẩn ngơ

Chiều quê sắc tím xa mờ

Lời thề xưa hoá câu thơ nửa chừng


Dương Văn Cường

Thứ Sáu, 24 tháng 9, 2021

CHỊ TÔI MÙA LŨ

 CHỊ TÔI MÙA LŨ


Mưa về lũ cuốn nhà hoang

Xót sa thắp lại nén nhang thờ chồng

Vẳng trong thăm thẳm hư không

Hồn ai chết đắng đang mong dãi bày

Chị về nuôi lấy mẹ thầy

Đời mơ hay tỉnh phút giây lòng thành

Bàng hoàng níu ngọn khói xanh

Cắn môi cam phận hoa cành người ta

Cầm lên sợi nắng chiều tà

Chị về vỡ đất vườn nhà ươm cây

Hàng rào tre hóa vẫy tay

Nao nao thương chị những ngày lũ qua

Thoắt thời cây cải ra hoa

Bát canh nuôi mẹ thơm qua của phòng

Chị về làm bến bên sông

Cầm sào gặn đục khơi trong lòng người

Sao trời  mưa rét mãi thôi

Áo người có ấm để tôi yên lòng

Chị tôi ba bốn long đong

phải chăng tại nỗi má hồng chênh vênh

Nổi trôi khắp chốn lênh đênh

Đi tìm chút ấm gập ghềnh chị tôi

Chị ngồi đếm hạt mưa rơi

Từng giọt lạnh từng giọt tơi tả lòng

Chồng ơi...sao thế hả chồng

Dẫu đói khát vẫn được mong bên người !

             

                      Dương Văn Cường

Thứ Ba, 21 tháng 9, 2021

LẶNG THẦM

LẶNG THẦM


Bao đêm ngồi đợi con về

Bao đêm nước mắt dầm dề, mẹ ơi!

Con đi xa tít mù khơi

Biết đâu nẻo đất chân trời…biết đâu?

Một mình mẹ gánh nỗi đau

Chồng rồi con tiếp theo nhau không về

Gió lùa mái rạ tái tê

Nén hương gục mặt làng quê lặng thầm

Bát cơm quả trứng ngày rằm

Quặn đau lòng mẹ tháng năm đợi chờ

Lặng thầm mãi đợi con thơ 

Lặng thầm đứng trước bàn thờ đêm đêm

Cầu trời Phật với tổ tiên

Xin cho con được bình yên về làng

Nhưng rồi tàn vạn nén nhang

Khói hương bay mãi,tro tàn mãi rơi

Một mình vẫn một mình thôi

Đong bao nước mắt mẹ ngồi tàn đêm…


Lấy gì đo được nỗi niềm

Lấy gì bù được những đêm lặng thầm ?


                    Dương Văn Cường

Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2021

LỜI CHA MẸ

 LỜI CHA MẸ


Đã yêu thì yêu hết mình

Chớ đừng núi thấp lại rình núi cao

Có đèn chớ ước thêm sao

Đắng cay biết nuốt ngọt ngào biết ngưng

Ra khơi phải lượng sóng lừng

Khéo tay chèo lái vượt lưng sóng cồn

Biết dừng khi miệng đang ngon

Nghĩ suy tính hết nguồn cơn vơi đầy

Vào rừng biết lựa chọn cây

Buồn đau biết nén ,oán dày không mang

Đi đường biết chọn đường quang

Đường mòn lối tắt ,vững vàng dò la

Muốn mong chắp cánh bay xa

Phải lường tình huống mất đà bị rơi

Đã ngồi vào cuộc cờ người

Chớ quên con tốt chớ rời con xe

Nắng xuân chớ tưởng nắng hè

Mưa nguồn chớ có thả bè mà xuôi

Đục trong trong đục đầy vơi

Làm người phải giữ tình đời thủy chung

Mấy lời cha mẹ rắt lưng

Vu lan đem ngẫm xem chừng đúng ghê


Dương Văn Cường

Trung thu xưa

 TRUNG THU XƯA


Trung thu thưở nhỏ vui ghê

Làm tiền bằng lá mang về mẹ cha

Mong mua hết những tuổi già

Bạn bè làng xóm một nhà cùng con

Cao su đôi dép lon ton

Leo trèo ca hát bị đòn bị la

Mang diều đi thả đồng xa

Ước làm hoàng tử thật thà có duyên

Lá dừa lá chuối làm thuyền

Thêm đôi nhẫn cỏ cô tiên du tình

Chiều về mẹ mắng lặng thinh

Học bài cho lẹ để bình yên thôi

Cuộc đời cũng đã ngược xuôi

Quay về kỉ niệm một thời trung thu

                   

                       Dương Văn Cường

Thứ Ba, 5 tháng 3, 2019

DIỄN VĂN CHÀO MỪNG NGÀY 8/3/2019

Kính thưa:các chị, các em và các đồng chí

Năm nay trong không khí ấm áp của mùa xuân,mọi người nói chung và chị em phụ nữ nói riêng lại háo hức đón chào kỷ niệm 109 năm ngày quốc tế phụ nữ.Đây là dịp để tôn vinh vẻ đẹp, khẳng định vai trò của người phụ nữ trong xã hội và trong cuộc sống gia đình.

Theo nghị quyết đã đề ra, hôm nay hội cựu quân nhân lữ đoàn 454 tổ chức gặp mặt nhân kỷ niệm ngày quốc tế phụ nữ.Tôi xin thay mặt toàn thể anh em trong hội kính chúc các chị , các em mãi trẻ đẹp, hạnh phúc, yêu đời,được nhận thật nhiều tình cảm của người thân, bạn bè, đồng chí , đồng nghiệp...

Như chúng ta đã biết: ngày quốc tế phụ nữ là thành quả đấu tranh lâu dài rầm rộ của hàng triệu phụ nữ trên toàn thế giới. Khởi đầu là cuộc biểu tình của 15000 công nhân nghành dệt ở Mỹ, kéo dài hàng thế kỷ, bằng nghị lực và tinh thần quả cảm, có cả những hy sinh mất mát, cuối cùng họ cũng giành được thắng lợi. Quyền bình đẳng giới được cả thế giới công nhận vào ngày 8/3/1910.

Ở Việt nam từ xa xưa hình ảnh mẹ âu cơ,người mẹ, người phụ nữ đầu tiên của dân tộc ta.Đã ý thức được quyền bình đẳng giới trong trọng trách cùng chồng xây dựng đất nước.Đã dẫn 50 con lên núi sinh cơ lập nghiệp tạo dựng giang sơn.
Kế đến là hai vị tướng đầu tiên của dân tộc là hai bà trưng đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa chống lại kẻ thù xâm lược.Bắt đầu ghi những trang sử hào hùng về hình ảnh người phụ nữ Việt nam trong công cuộc dựng nước, giữ nước và đấu tranh giải phóng dân tộc.

Với hội ta, thời gian qua các chị , các em luôn nỗ lực , sáng tạo, hoàn thành xuất sắc công việc chuyên môn ở cơ quan,thực hiện tốt thiên chức làm mẹ , làm vợ, chăm sóc và xây dựng gia đình hạnh phúc.100% các gia đình hội viên đều đạt gia đình văn hoá, các chị các em đã hoàn thành tốt nhiệm vụ là người giữ lửa vĩnh hằng cho cuộc sống gia đình.

Một lần nữa tôi xin thay mặt anh em nam giới trong hội:
Xin chúc các chị, các em sức khoẻ,hạnh phúc,thành đạt.
Chúc buổi lễ thành công tốt đẹp
Hẹn gặp lại trong chương trình du lịch :”Về miền ký ức thăm lại chiến trường xưa “ tại thành phố Móng cái Quảng ninh
Xin cảm ơn các chị , các em và các đồng chí
   
                                  Chủ tịch hội
                            Dương Văn Cường

Thứ Năm, 16 tháng 8, 2018

CHUYỆN ANH THƯƠNG BINH
Truyện ngắn

       Bỗng có tiếng kêu hốt hoảng của lũ trẻ con: “ ối giời ôi có người chết trên cầu”, mới sáng ra mọi người còn chưa đi làm, nghe tiếng kêu vội vàng lục tục chạy ra.
Cây cầu được ghép bằng hai cây gỗ qua một con sông đào chừng hai chục mét để dân xóm hàng ngày đi làm, hoặc đi chợ. Đúng rồi! có gã đàn ông trạc tuổi trung niên nằm sấp trên cầu, hai tay, hai chân buông sõng không biết còn sống hay đã chết, quần áo lấm lem đất bùn. Mấy bà đàn bà sợ quá chắp tay vái lia lịa, người xóm kéo ra ngày một thêm đông.
       Ông Thanh trưởng thôn ngủ dậy còn mặc quần đùi, áo cộc cùng anh thư ký đội sản xuất giấy bút trên tay như sẵn sàng lập biên bản. Mọi người giãn ra nhường lối, ông nắm tay dàn vịn đi dần ra, đến nơi từ từ cúi xuống nhìn, thấy cái xác động đậy rồi rên khe khẽ. Ông lay người nâng đầu lên thì nhận ra lão Quậy ở xóm giữa, với hơi rượu nồng nặc, xen lẫn mùi khai khai của thứ nước thải còn ướt đẫm đũng quần, ông vội bịt mũi lùi lại rồi huy động cánh thanh niên từ từ đưa lão vào bờ.
       Lão Quậy chừng độ ngoài năm mươi nhưng trông hắn như gần bảy mươi tóc bạc lốm đốm, lúc nào cũng bộ quần áo bộ đội cũ đã vá vài miếng, mặt mũi sần sùi vết sẹo, hai mí mắt sụp xuống, cánh mũi to đỏ mọng như quả cà chua. lão đi đến đâu là trẻ con lánh xa bởi mùi chua chua của người ít tắm phả ra cùng mùi rượu. Mấy bà dỗ trẻ toàn lấy lão ra để dọa : Ăn đi, nín đi, không lão Quậy đến bây giờ thế là bọn trẻ im thin thít.
Ngày mới nhập ngũ lão cũng đẹp trai lắm chứ, về phép đi B trong bộ quân phục gabadin TQ xanh màu lá cây, trên ve áo quân hàm binh nhất đỏ rực làm nao lòng các cô gái trong thôn. Nhà lão nghèo có mình là con một, nhưng do làm đơn tình nguyện lão mới được nhập ngũ, cha mẹ còn cả tuy chưa già nhưng cha lão mắc bệnh nên yếu lắm, kinh tế gia đình chủ yếu nhờ vào mẹ lão.
         Ở chiến trường nghe đâu lão đã từng chiến đấu ở Tây Nguyên ba năm cũng có huân huy chương chiến dịch. Trong một trận chiến đấu ở Playcu năm 1974 lão bị thương vào chân và bỏng nặng do bom Napan, điều trị khỏi nhưng còn để lại nhiều vết sẹo ở trên mặt và thân thể. Thế là lão được ra Bắc. Về quê thì cha đã mất, lão rất thương mẹ nên đã xin phục viên về quê.
         Thời bao cấp sau chiến tranh khó khăn mọi bề nhưng có 13 kg gạo phiếu, và phụ cấp thương binh mẹ con lão cũng không đến nỗi nào. Lão chịu khó dù là lên rừng xuống biển ai nói làm ăn được lão cũng theo, rồi lúc lại ở quê làm phụ xây, đóng gạch thuê cho mọi nhà, được cái là lão khỏe, hai bắp tay cuồn cuộn như dân tập thể hình, những ngày mưa đường trơn như đổ mỡ, bốn thúng phân lão gánh phăng phăng ra đồng. Tính hiền lành gặp ai cũng chỉ cười, lão chẳng ham chơi bời cờ bạc hay đàn đúm như một số thanh niên trong làng mà thú vui nhất của lão là thuốc lào và nước chè.
         Đối với phụ nữ bấy giờ lão rất có giá, là bộ đội thương binh từ chiến trường ra , tuy mặt mũi có xấu đi chút ít nhưng lão vẫn là chàng trai cường tráng hiền lành nên nhiều người để ý. Lão lấy vợ, vợ tên là Thuần ở làng bên sắc đẹp thuộc loại trung bình nhưng được cái chịu khó. Sau thời gian nhờ mối hỏi, đám cưới được tổ chức nhanh chóng, thời ấy dăm bao thuốc nửa cân chè ra UBHC xã là xong.
Cuộc sống mưu sinh vất vả nhưng hạnh phúc, sau vài năm mẹ lão mất còn lại hai vợ chồng, cuộc sống cũng không khó khăn lắm bới cả hai cùng chịu khó. Nhưng nỗi đã 10 năm rồi mà vẫn chưa có con, bao tiền của dắt díu nhau bệnh viện này sang bệnh viện khác nhưng cũng không kết quả. cùng tuổi như lão lúc này mọi người đã có con đi học. Vợ lão lúc nào cũng thở dài, trong nhà mong có tiếng khóc trẻ thơ.
Làm ăn ngày một khó khăn ba gian nhà tranh không đủ rạ để lợp, mưa gió dột tứ tung, lão dạo này dở chứng ốm đau luôn, lão bàn xin con nuôi nhưng vợ không đồng ý. Nhiều lúc buồn lão thường uống rượu dải khuây rồi nói lung tung. Nhưng khi bình thường lão là người tốt nết ai nhờ gì cũng giúp đến nơi, đến chốn, mổ lợn làm cỗ cả đêm không ngại ngần. Gia chủ biết tật hay uống rượu nên khi về dúi thêm cho lão chai rượu và ít đồ nhắm lão cười tít mắt, dần dà con ma men đã ngấm vào lão, sinh tính đổi nết vợ chồng cãi nhau luôn.
         Nghe một số chị em rủ rê, vợ lão bàn: bây giờ rảnh rỗi, mình ở nhà, tôi đi phụ hàng cho các chị xóm bên, lên Lạng Sơn mang hàng về xuôi công mỗi tháng bằng cấy cả vụ. Lúc đầu lão quyết không nghe nhưng sau nhiều lần lão cũng phải đồng ý.
Thuần theo mấy người lên Lạng sơn lúc thì gánh thuê, lúc thì giúp việc cho một cửa hàng tối về ở trọ ngoài xóm bãi bìa rừng, tuy vất vả nhưng thu nhập cũng được, mỗi tháng về một lần sau thưa dần, rồi không về nữa. Có tin đồn cô Thuần vợ lão cặp kè với một tay cửu vạn ở Lạng sơn đã có con với nhau, cũng có tin Thuần sang TQ lấy chồng. Ai hỏi lão Quậy cũng cũng chẳng hé răng, hàng ngày đi về như một cái bóng, buồn lão lại uống rượi giải sầu. Vợ bỏ đi lão đã linh cảm từ trước nhưng cái không ngờ là nó xảy ra quá nhanh và đúng thời điểm này mà thôi. Dạo này ít việc làm, lão sống nhờ vào tiền trợ cấp thương binh, vài củ khoai, gói mỳ tôm là xong bữa, riêng có rượu thì không thể thiếu
Càng ngày sức khỏe càng giảm, thời gian say nhiều hơn tỉnh, lúc tỉnh thì lão lầm lũi, lúc say thì lão khóc, khóc rồi lại chửi. Lão căm thù đàn bà, lão chửi tất cả đàn bà trên thế gian này, nhất là Thuần người vợ mà lão rất yêu quý, đã phản bội lão. 
Thường ngày lão mua rượu ở quán đầu làng, có tiền thì trả , hết tiền mua chịu,. Một hôm bà hàng rượu khuyên can: “ uống ít thôi kẻo ảnh hưởng sức khỏe”, lão liền trợn mắt, hai má loang lổ sẹo thâm như hai miếng thịt trâu giật lên, chùng xuống trông mà khiếp. Nhưng được cái cứ đầu tháng có phụ cấp là lão trả hết thiếu mua chịu sau. có rượu như tiếp thêm sức sống, hắn lại chửi bới, hàng xóm xung quanh quen tai chẳng lạ gì, người ta gọi lão là Chí Phèo thời mới, có đợt mấy ngày lão chẳng ra khỏi nhà, ăn mỳ tôm, tu rượu, say lại chửi, chửi rồi lại ngủ,
         Hôm nay gã chuẩn bị đi làm thì có tiếng gọi, lão mở cửa thì ra vợ lão về, tay xách nhiều thứ, mới có vài năm mà trông cô nàng trẻ ra vài tuổi khuôn mặt tươi rói, thân hình khúc nào ra khúc ấy, lão mừng quá thế là từ nay hắn hết cô đơn và không uống rượu nữa vợ chồng hạnh phúc, vợ lão có mang chín tháng sinh con trai bụ bẫm, vợ lão nựng: “thằng Quậy con của mẹ giống bố ghê này”. rồi thằng bé cứ mỗi ngày, mỗi lớn biết tiếng gọi pa, pa.. vui lắm, lão sắm chiếc xe đạp thật đẹp để hàng ngày chở con đi chơi khoe với thiên hạ. Nhưng rồi những giọt mưa trái mùa xuyên qua mái rạ đã cùn nát rơi xuống mặt, làm lão bừng tỉnh, thì ra là một giấc mơ, miệng lão vẫn tóp tép như cố nhấm nháp hương vị hạnh phúc ngọt ngào đang còn vương vất nơi đây. 
          Rồi lão lại tu rượu, chán uống ở nhà, chửi không có người nghe thì lão ra quán có hôm say quá nằm ngủ ngay rãnh nước ven đường, thậm chí lên cả cây cầu để ngủ. 
Hai hôm liền không thấy lão chửi, cửa liếp ba gian nhà tranh vẫn đóng im ỉm, hàng xóm thấy lạ báo với thôn, tổ bảo vệ đến gọi không thấy tiếng trả lời liền đẩy cửa vào, mọi người hoảng hồn chạy ra lão..lão Quậy… đã chết, thân cứng đờ nằm nguyên dưới đất. Được tin họ hàng vội cho người đến nhà dọn dẹp, khâm liệm chuẩn bị đám tang. Lúc truy điệu người ta phủ lên quan tài lá quốc kỳ, và hai hàng tiêu binh đứng nghiêm trang, dù sao lão cũng là CCB.

       Nhiều người thở dài…. thôi thế cũng xong một kiếp người. Khi trưởng ban tang lễ đọc lời điếu và thông báo: lão có cả Huân chương chiến công và huy hiệu chiến dịch, còn tờ giấy này là xét nghiệm ở bệnh viện, lão bị vô sinh do chất độc da cam, điều này lão đã dấu vợ. Những giọt nước mắt cảm thương lăn dài trên gò má những người đến đưa tang, họ bảo nhau thôi thì vẫn còn may cho lão, chứ sinh ra vài đứa con, người chẳng ra người, thú chẳng ra thú thì còn khổ đến bao giờ.